Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2013

V.A. Bailey :Búp bê và bông hồng bạch


Nguyên  tác: The Doll and a White Rose của  V.A.Bailey 



                                                      Đỗ Phương Khanh dịch




Tôi vội vã chạy tới một cửa hàng bách hóa để quơ đại vài món quà Giáng Sinh vào giờ cửa tiệm sắp đóng. Nhìn đám người ùn lên phía trước, tôi vừa bực bội với sự trễ nải của mình vừa cố gắng xấn xổ vượt qua được đám đông chen chúc trong cái gian hàng đồ chơi trẻ con này. Giá mà tôi lăn kềnh được ra đây, ngủ thiếp đi, tỉnh dậy để phát hiện ra rằng ngày Lễ Giáng Sinh đã qua rồi thì hay biết mấy!

Bỗng nhiên, tôi nhận ra tiếng của chính tôi đang lẩm bẩm đọc giá tiền những món đồ chơi bày trên kệ và tưởng tượng cảnh mấy đứa cháu được ôm những món đồ chơi đó trong lòng. Thuận chân, tôi tiến về khu bán búp bê. Phía xéo với tầm mắt, tôi thấy một em bé trai trạc 5 tuổi đang ôm một con búp bê xinh xắn. Đứa bé nâng niu món đồ chơi trong vòng tay, còn tay kia thì cứ vuốt mãi lên mái tóc mềm như tơ của con búp bê. Tôi không thể dời mắt khỏi quang cảnh đó mà cứ chăm chú nhìn cậu bé, trong lòng thắc mắc không biết cậu ta giữ con búp bê đó cho ai vậy. Rồi tôi thấy cậu ta quay qua phía một phụ nữ đứng bên cạnh mà hỏi:

- Cô có chắc là số tiền của cháu không đủ để mua con búp bê này không?

Người cô trả lời, giọng có vẻ sốt ruột:

- Cháu biết là cháu không đủ tiền mua nó mà.

Rồi cô ta dặn cháu đừng đi đâu cả, phải đứng tại đó chờ cô ta đi mua mấy món đồ, sẽ trở lại trong vòng vài phút. Nói xong, cô đi khuất khỏi tầm mắt chúng tôi.

Cậu bé vẫn đứng đó tay ôm con búp bê. Ngập ngừng một chút, tôi cất tiếng hỏi cậu định mua con búp bê cho ai. Cậu bé trả lời:

- Đây là con búp bê mà em cháu thích được tặng vào dịp Giáng Sinh này lắm. Em cháu biết chắc ông già Nô-en sẽ mang tới cho em.

Tôi bảo cậu bé:

- Có lẽ ông già Nô-en  sẽ mang tới cho em cháu thật đấy.

Cậu bé lắc đầu:

- Không, ông già Nô-en không thể tới được nơi em cháu  ở hiện nay. Cháu phải đưa con búp bê cho mẹ cháu để mẹ mang tới cho em.

Tôi hỏi:

- Vậy em cháu ở đâu?

Cậu bé nhìn tôi bằng cặp mắt thê thảm nhất, trả lời:

- Em cháu đã về với Chúa. Bố cháu nói rằng mẹ cháu cũng sắp phải đi với em rồi.

Tim tôi thót lại. Cậu bé nói tiếp:

- Cháu dặn bố cháu nói với mẹ là mẹ đừng đi vội. Cháu dặn bố cháu nói với mẹ là hãy chờ cháu về.

Rồi cậu bé hỏi tôi có muốn coi hình cậu ta không. Tôi nói tôi rất muốn. Cậu ta lôi ra mấy tấm hình cậu mới chụp ở ngoài cửa tiệm, nói:

- Cháu muốn mẹ cháu đem theo mấy tấm hình này để mẹ không bao giờ quên cháu. Cháu yêu mẹ cháu lắm. Cháu ước gì mẹ cháu sẽ không phải rời bỏ cháu. Nhưng bố cháu nói rằng mẹ cháu cần phải đi với em cháu.

Tới đây, cậu bé lặng lẽ cúi gục đầu xuống. Trong khi cậu không thấy, tôi thò tay vào ví lôi ra một nắm tiền giấy cuộn trong lòng bàn tay rồi đề nghị:

- Này, hay là chúng mình đếm lại tiền của cháu một lần nữa coi sao?

Cậu bé có vẻ phấn khởi:

- Dạ, cháu biết chắc là phải đủ mà.

Thế là tôi nhẹ nhàng tuồn nắm tiền trong lòng bàn tay tôi nhập vào  tiền của cậu bé và bắt đầu đếm. Dĩ nhiên là bây giờ thì số tiền dư sức để mua con búp bê. Cậu bé nhìn lên cao, cất tiếng nhẹ nhàng:

- Xin cảm ơn Chúa đã cho con đủ tiền mua búp bê.

Rồi cậu nói với tôi:

- Cháu vừa mới cầu xin Chúa cho cháu đủ tiền mua con búp bê này để mẹ cháu  đem theo cho em cháu. Chúa đã nghe thấy lời cầu xin của cháu. Cháu đã muốn xin đủ tiền để mua được hoa hồng bạch cho mẹ cháu nữa mà cháu lại không hỏi. Vậy mà Chúa lại cũng cho cháu đủ tiền để mua được cả búp bê cho em cháu và hoa hồng cho mẹ cháu nè. Mẹ cháu thích hoa hồng bạch lắm, cô à.

Người cô của cậu ta đã trở lại. Tôi cũng đẩy xe đồ của tôi đi luôn. Đầu óc tôi cứ bận bịu với hình ảnh cậu bé trong khi tôi tiếp tục mua sắm, nhưng tinh thần tôi bây giờ không giống như trước khi tôi gặp cậu ta. Tôi bỗng nhớ tới  câu chuyện đăng trên báo mấy ngày trước , chuyện về một người say rượu lái xe, tông vào xe kia làm một cô bé chết ngay và mẹ cô  bị thương nặng. Gia đình người bị nạn đang bối rối trước quyết định có nên tháo bộ máy trợ sinh ra khỏi cơ thể bà ta chăng. Nhưng dĩ nhiên là cậu bé này chẳng liên quan gì đến câu chuyện đó cả, tôi tự nhủ thế.

Hai ngày sau tôi đọc báo thì biết được rằng gia đình người đàn bà trong tai nạn xe hơi đã quyết định tháo máy trợ sinh và bà ta đã chết. Tôi vẫn chưa quên câu chuyện cậu bé và cứ thắc mắc không biết hai chuyện có liên quan gì đến nhau không.

Chiều hôm đó, không nhịn được nữa, tôi đi mua mấy bông hoa hồng trắng và đến nơi quàn xác người đàn bà.

Thì ô kìa, nằm lặng lẽ trong bộ áo cuối cùng của cuộc đời, người đàn bà trẻ ôm trong tay một bông hồng bạch cạnh con búp bê xinh xắn và trên ngực là tấm hình cậu bé chụp trước cửa tiệm bách hóa.

Tôi ra về với đôi mắt đẫm lệ, cuộc đời tôi thay đổi từ lúc đó. Tình yêu mà cậu bé thơ ngây dành cho em nhỏ và mẹ cậu ta mới thiêng liêng sâu sắc làm sao! Một tình yêu bao la như thế, đằm thắm như thế, mà chỉ trong thoáng chốc, một người say rượu, lái xe trong tình trạng tâm trí không sáng suốt, đã xé tan nát trái tim cậu bé ra thành từng mảnh. 

                                                             


Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2013

YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU ( KỲ 98)

                                 (tiếp theo)

              

Bà vợ trừng mắt :
“ Ông nói gì lạ thế ? Hai mẹ con tôi đang trò chuyện vui vẻ sao ông bảo mai kia nó mới về. Ông đi ngủ trước đi, mặc mẹ con  trò chuyện …”
Rồi bà cười khanh khách :
“ Có phải thế không con . Mới chập tối bố đã bắt mẹ đi ngủ. Già rồi ngủ làm gì cho lắm…”
Ong đành ngồi cạnh bà, đau đớn nhìn vợ trò chuyện với con gái trong tưởng tượng . Mãi tới lúc mệt quá, bà thiếp đi ở bên bàn, ông mới cõng bà về buồng ngủ. Suốt đêm bà nằm không yên, tay chân cứ vật vã, có lúc bà còn đòi sang phòng con gái ngủ với nó cho đỡ nhớ. Ong lại  phải khuyên giải một hồi bà mới chịu nhắm mắt ngủ.
Sáng hôm sau vừa mở mắt dậy bà đã hỏi “con Vân đâu rồi?”. Nhìn vẻ mặt vợ, ông hiểu bà vẫn đang trong cơn loạn thần kinh. Ong đành nói dối vợ con gái đã đi làm  nhưng bà không tin, cứ khăng khăng đòi gọi nó về. Nhìn bà khóc lóc vật vã ông muốn kêu trời. Cái số của ông không hiểu phạm vào chuyện gì mà đen quá là đen. Nào con gái mất tích, nào án kỷ luật treo trên đầu, giờ lại thêm bà vợ thần kinh. Cùng lúc bao nhiêu hoạn nạn ? Bất giác ông nhớ lại lời gã thầy bói : “ Quẻ này đại hung nhưng mà lại đại cát. Cô gái ra đi mang theo đại hạn cho cả nhà. Cứ chờ bảy ngày nữa sẽ có tin. .”.
Bảy ngày nữa có tin, ông cười nhạt, tính từ hôm ông ra bờ hồ gặp gã thầy bói tới hôm nay là đúng bảy ngày đây. Sau khi cho bà uống mấy viên thuốc ngủ, ông cứ quanh quẩn ra vào có ý ngóng đợi . Sáng, trưa rồi đến  chiều qua đi chẳng thấy tin tức gì . Ông bỗng thấy mình thật ngớ ngẩn tin vào lời lừa bịp  của gã thầy bói chờ đợi vu vơ.
Hôm nay là hạn cuối ông hoàn thành bản kiểm điểm sáng mai đọc trước Ban nội chính thành uỷ. Mặc dầu ông đã khéo léo chọn lựa ngôn từ . Nào cố gắng hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn nhược điểm chưa đi sâu đi sát  cơ sở phát huy tiềm năng cán bộ đảng viên. Nào phát huy được nguồn lực  địa phương đẩy mạnh công tác văn hoá văn nghệ nhưng còn chưa sáng tạo trong phương pháp công tác nên chưa kịp thời uốn nắn những biểu hiện lệch lạc…Nhưng ông biết bản báo cáo chỉ là hình thức có tính chất thủ tục, còn bản án được quyết định ở đâu đó rồi. Với những chứng cớ xoay quanh việc ông nhận tiền bảo kê của hệ thống nhà hàng và khách sạn, nhất là vụ đổ bể khách sạn Hằng Nga và vụ in lậu trong Công ty in, nặng thì có thể khởi tố hình sự mà nhẹ được xử lý nội bộ thì cũng phải về hưu “hạ cánh an toàn”.
Giữa lúc ông cán bộ thành uỷ đang cân nhắc từng câu từng chữ trên bản kiểm điểm thì tiếng chuông gọi cửa đâm nhói tim ông. Ai đến thế ? Có phải người mang tin tức về con gái ông đúng như lời gã thày bói nói. Nếu đúng vậy  gã là thần bói  chứ chẳng chơi.
Ong lật đật mở cửa và dụi mắt kinh ngạc vì cái người đang bấm chuông thật không thể ngờ đó lại là …bà Trưởng ban Kiểm tra thành uỷ. Chưa lần nào bà đặt chân tới nhà ông, nay bà hạ cố tới thăm trong lúc ông đang chịu án kỷ luật treo trên đầu chắc có việc gì ?.  Bà Kiểm tra bước nhanh vào phòng như sợ ai bên ngoài nhìn thấy. Ong thành uỷ cứ trố mắt lên   quên cả mời khách ngồi khiến bà bật cười :
“ Anh lạ lắm phải không ? Sao cứ đứng đực  ra vậy ?”
Ong nói líu cả lưỡi :
“ Mời…mời ngồi…cô tới…có chuyện gì mà đột ngột thế ?”
Bà Kiểm tra vẫn cười :
“ Có gì đâu…nghe tin cháu bỏ đi khỏi nhà, tôi tới hỏi thăm, được  chưa ?”
Ong thành uỷ giật mình :
“ Cô có tin gì của cháu không ? Tôi đang sốt ruột như lửa đốt đây. Bà nhà tôi còn lên cơn thần kinh nữa kìa..”
“ Làm sao tôi biết được…nghe nói anh cũng chạy các nơi nhờ tìm kiếm khiếp lắm ? Lại còn nhờ cậy cả bên an ninh trật tự nữa phải không ?”
Ong thành uỷ tròn mắt :
“ Sao cô biết ? “
Bà Kiểm tra cười  khẩy :
“ Tôi còn biết cả thằng Bằng , Trưởng phòng trật tự trị an đã nhận tiền của anh rồi phải trả lại nữa kìa…”
Ong thành uỷ như phát hiện ra điều gì, đăm đăm nhìn bà Kiểm tra :
“ Cô tới đây thay mặt cho ai đó để dằn mặt tôi phải không ?”
Bà Kiểm tra không chịu kém, cũng giương mắt  nhìn lại rồi cười cợt :
“Tôi tới không phải dằn mặt mà mang niềm vui cho anh đây …”
“ Niềm vui cho tôi ? Niềm vui lớn nhất với tôi lúc này là tìm thấy con gái, chị có mang tới cho tôi được không ?”
Bà Kiểm tra lắc đầu :
“ Tôi đã bảo tôi không biết gì về chuyện con gái anh mà. Nhưng tôi tưởng anh còn nỗi lo khác không kém gì chuyện con gái bị mất tích, đúng không ?”
Ong thành uỷ lắc đầu :
“ Toi chẳng có chuyện gì phải lo ngoài việc con gái tôi mất tích …”
 Bà Kiểm tra đổi hẳn thái độ, nghiêm giọng :
“ Thế còn bản kiểm điểm anh đang viết ? “
Ong thành uỷ giật nảy người :
“ Cô tới gặp tôi về chuyện đó ?”
Bà Kiểm tra cười  rất tươi :
“ Có vẻ anh lấy lại bình tĩnh . Chắc anh hiểu tôi tới đây có việc gì rồi chứ ?”
Ong thành uỷ giả vờ:
“ Tôi chẳng hiểu gì hết . Tại sao cô lại tới mang niềm vui cho tôi. Chuyện gì vậy ?”
Bà Kiểm tra chậm rãi :
“ Anh đã viết  xong bản kiểm điểm chưa ? Nghe nói sáng mai thường vụ họp nghe anh đọc phải không ?”
Ong thành uỷ tái mặt :
“ Đúng rồi, tôi viết xong rồi, không hiểu thường vụ sẽ quyết định kỷ luật thế nào ? Tôi hy vọng chỉ xử lý nội bộ thì may cho tôi quá. Cô ở bên Kiểm tra chắc đã biết trước rồi chứ ?”
Bà Kiểm tra nghiêm mặt :
“ Vụ này là vụ án điểm do thường vụ trực tiếp chỉ đạo vì nó ảnh hưởng tới uy tín cán bộ  lãnh đạo vừa làm xấu bộ mặt  thành phố nên chắc là không có chuyện xử lý nội bộ đâu ?”
Ong thành uỷ kêu lên :
“ Không xử lý nội bộ thì truy tố tôi ra Toà à ?”
“ Chắc chắn rồi. Còn mức án sao thì còn phải chờ thường vụ họp  quyết định “dự kiến án”.”
Ong thành uỷ rền rĩ :
“ Trời ơi…trời ơi…phải chịu án tù giam  giết tôi đi còn hơn…”
Bà Kiểm tra cười :
“ Chẳng ai muốn giết một cán bộ như anh, có người còn muốn xé bản kiểm điểm anh đã viết, xoá án cho anh và còn dự kiến  anh ở lại ban chấp hành thêm một khoá mới nữa kìa…”
Ong thành uỷ hiểu ngay người đó là ai rồi. Chỉ có ông Sáu Thượng  mới đủ quyền uy và quan hệ thực hiện những việc tầy đình vậy. Và ông lớn gia ơn chẳng qua muốn ông im lặng để chìm xuồng cái vụ  con gái ông mất tích mà lúc này ông đoán chắc nhất định có  bàn tay của thằng Hàm con trai ông .  Tuy nhiên ông vẫn giả vờ không biết :
“ Ai thế ? Ai tốt bụng với tôi thế ?”
Bà Kiểm tra cười khẩy :
“ Có thực không biết không ? Tôi tưởng anh biết quá rõ người đó là ai rồi chứ ?”
Ong thành uỷ ngồi ngây đơ, mặt sa sầm không nói nửa lời. Vậy là quá rõ rồi, bà Kiểm tra tới gặp anh chắc chắn do ông Sáu Thượng phái tới thương lượng đánh đổi việc xoá án và đề bạt ông lấy việc ông im lặng không làm ầm ĩ vụ con gái ông mất tích . Bà Kiểm tra đứng dậy :
“ Thôi tôi về để anh vào săn sóc cho chị ấy. Có thế nào anh cho biết quyết định sớm. Cuộc họp ngày mai sẽ lui lại một tuần để anh có thời gian suy nghĩ…”
Sáng hôm sau, đúng giờ hẹn ông có mặt tại trụ sở thành uỷ để đọc bản kiểm điểm trước thường vụ theo kế hoạch được thông báo từ tháng trước. Lạ thay, như có phép thần, khi ông vừa bước vào hội trường, ông chánh văn phòng đã chạy tới thông báo cuộc họp hoãn tới tuần sau vì có ba đồng chí trong thường vụ bận việc đột xuất. Ong chánh văn phòng còn cáo lỗi vì gấp quá nên không kịp báo ông . Ong thành uỷ thở hắt ra, vậy quá rõ rồi, mọi chuyện diễn ra đúng y như lời bà Kiểm tra tối qua. Nếu ông im lặng trước sự mất tích hoặc rất có thể trước cái chết của con gái ông, mọi chuyện dính dáng tới vụ kỷ luật ông sẽ được bỏ qua, thậm chí ông còn được ở lại thành uỷ thêm khoá nữa, còn không….tai ương sẽ dồn dập đổ lên đầu , ông sẽ mất hết và ngay cả con gái cũng mất tích luôn. Ong đã nghe quá nhiều chuyện về những người rơi vào hoàn cảnh có “liên quan” tới sếp lớn như ông, có người mất chức, có người tù tội, thậm chí có người chết bất đắc kỳ tử một cách bí mật.
Rời trụ sở thành uỷ, ông thả bộ dọc theo phố phường rồi vui chân ông trở lại gốc cây bờ hồ nơi gã thầy bói vẫn ngồi. Gã đang liến láu với một cô gái chắc đang nhờ gã bói quẻ cầu duyên :
“ Mệnh cô là Tang đố Mộc. Sao chủ mệnh là Tham lang. Sao chủ thân là Linh Tinh. Vợ chồng tài cán, đảm đang, danh giá, vợ có tính hay ghen không biết kiềm chế sẽ tan cửa nát nhà…”
Vừa nhác thấy ông thành uỷ , gã ngừng phắt , xua xua :
“ Thôi thôi, bói cho cô thế đủ rồi, cần hỏi thêm, mai quay lại nhé…”
Rồi gã rối rít ấn ông thành uỷ ngồi xuống một cái ghế gỗ :
“ Em biết chắc thế nào bác cũng trở lại … linh nghiệm thế đấy…”
Ong thành uỷ cười cười :
“ Tôi cứ tưởng bữa trước công an nó lôi cậu đi mút mùa rồi …”
“ Mười thằng công an chẳng làm gì được em. Bữa đó nó làm ra vẻ hùng  hùng hổ hổ bắt mình về tội  hành nghề mê tín dị đoan. Ai ngờ ngược lại. Hoá ra đồng chí Trưởng phòng điều tra xét hỏi nghe danh em đã lâu, lại đang lo cô vợ ở nhà lăm le cắm sừng vì quanh năm suốt tháng cứ vác cặc đi phá án . Bởi vậy đồng chí mới cho bắt em về chỉ để…bói riêng cho đồng chí thôi  ..”
Ong thành uỷ trố mắt :
“ Lại còn thế nữa kia..”
“ Chứ sao ? Bởi thế bói cho đồng chí xong em mới  được thả ra tức khắc và lại còn ung dung ngồi đây  hành nghề nữa chứ. ĐM đồng chí hỏi đi hỏi lại cả buổi sáng mà đéo chi cắc nào. Nhưng không sao, có công an bảo kê rồi cố nội  thằng nào dám động tới em…Ba thằng cảnh sát vòng vòng qua đây nhìn thấy em cứ tảng lờ như không thấy. Bác thấy em oách chửa ?” 
Ong thành uỷ gật đầu thán phục :
“ Cậu thế mà giỏi thật. Bữa đó tôi thấy tụi nó lôi tuột cậu lên xe thật quá bằng bắt phản động…”
“ ĐM. chúng nó chứ, chỉ được cái bắt nạt dân là giỏi. Thế …thế chuyện của bác ra sao rồi ? Đã có tin gì con gái chưa ?”
Ong thành uỷ chắp tay vái :
“ Tớ cứ tưởng cậu tán nhăng tán cuội ngờ đâu lại đúng mới chết …”
“ Vậy phải thưởng cho thầy đi…”
Ong thành uỷ sốt sắng móc ra tờ một trăm dúi vào tay gã thầy bói :
“ Tớ đang có việc phải phân vân, nghĩ ngợi . Cậu bói cho tớ một quẻ coi nên thế nào ?”
“ Bác định đổi nhà, mở Công ty hay là chuyển công tác ?”
Ong thành uỷ lắc đầu :
“ Chuyện đó không nói được, chỉ biết có người đang đề nghị tớ một điều rất hệ trọng, cậu  bói cho tớ  nên nhận lời hay từ chối ?”
Gã thầy bói nhìn ông chăm chú rồi chỉ ra ngoài vỉa hè :
“ Ong ra đứng chỗ  kia chọn bất kỳ chiếc ô tô nào chạy qua rồi đọc cho tôi số xe…”
Ong thành uỷ  tròn xoe mắt :
“ Sao lạ thế ? Chọn xe con, xe taxi hay xe buýt ?”
“ Xe nào cũng được…ông cứ ra đó rồi chọn xe nào là tuỳ ông…”


                       (còn tiếp)

Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013

Nhà văn Nhật Tiến : GIẤC NGỦ CHẬP CHỜN ( KỲ 14 )



                                    (tiếp theo)


Thấy Đực, mặt Vấn vụt tươi lên. Nàng nhoẻn một nụ cười rạng rỡ rồi xòe bàn tay ra đón gã. Đực dựng cây súng vào vách rồi ngồi xuống nệm cỏ. Gã nắm lấy tay nàng bóp chặt như muốn truyền sang nàng tất cả nỗi nhớ thương chồng chất từ bao nhiêu năm tháng. Vấn mỉm cười, cặp mắt của nàng long lanh như chất chứa vẻ cảm động. Nàng ngắm nghía Đực một lát rồi nói:
- Trông anh vẫn thế. Còn Vấn, anh có thấy khác gì không?
Đực bùi ngùi:
- Có vẻ xanh hơn. Mà sao đi mất biệt đâu, không nhắn giùm cho tôi một câu.
Vấn mỉm cười:
- Giận lắm hả?
Đực không đáp nhưng gã nắm chặt tay nàng hơn nữa. Gã muốn nói thật nhiều nhưng rồi lại không nói được gì cả. Vấn cũng im lặng để kéo dài giây phút cảm thông sâu xa đó. Mãi một lát sau nàng mới lên tiếng:
- Vấn gọi anh tới để báo cho anh một tin vui. Mà điều không biết có phải là vui với anh không đây?
Nói rồi nàng rút bàn tay ra khỏi tay Đực, nằm ngay ngắn lại và kéo tấm mền ra khỏi mình. Đực giật mình khi trông thấy cái bụng to của Vấn mà từ lúc vào gã không đề ý. Gã nhìn Vấn bối rối, rồi bỗng thốt lên:
- Vấn. Vấn...hả?
Vấn gật đầu nhẹ nhàng:
- Con anh đó. Rầu hay vui?
Đực cảm động đến nghẹn ngào:
- Sao lại rầu kia chớ. Trời ơi! Thực không ngờ...
- Không ngờ thiệt hả?
- Thiệt chớ. Ai mà ngờ cho được.
- Anh nhận nó không?
- Ôi cha! Sao lại không. Hỏi chi mà kỳ cục vậy. Con tôi mà!
Câu trả lời của Đực làm Vấn hài lòng. Nàng trở nên thân mật và gần gũi với gã hơn. Một tay của nàng níu lấy vai gã. Cánh tay kia quàng qua cổ gã một cách nồng nàn. Nàng nũng nịu:
- Vậy mà em cứ lo. Phải rồi. Con anh đó. Nếu là con trai nó sẽ giống anh như đúc.
Đực ngả lưng xuống nằm xuôi bên cạnh nàng. Bàn tay của gã đặt lên bụng nàng. Gã có cảm giác như đứa bé đang cựa quậy trong đó. Lòng gã dâng lên một niềm xao xuyến, rung động như gã đã vừa hoàn tất một việc tốt đẹp nhất trên đời. Giây lâu, gã nhìn nàng dò hỏi:

- Bây giờ tính sao nhỉ? Có về với tôi không ?
Vấn không trả lời ngay câu hỏi của gã mà lại giận dỗi một cách nũng nịu :
- Sao anh cứ xưng tôi hoài, dễ ghét quá. Từ nay em là vợ anh rồi
- Phải đấy. Anh sẽ giới thiệu em với tía.
- Bao giờ?
- Ngay ngày mai.
Vấn lắc đầu:
- Anh không thấy sao. Bụng em lớn thế này đi đâu nổi.
Đực ngẩn ra nhìn Vấn. Rồi gã lại cúi xuống ngó kỹ bụng nàng hơn. Một lát gã buột miệng:
- Ừ nhỉ.
- Em đã nhờ Yút rồi. Em sanh con ở đây.
- Đâu có được, ở đây đâu có thuốc men gì.
- Đó là điều khiến em nghĩ tới anh. Anh phải lo cho em đầy đủ đấy nhé.
- Tất nhiên rồi.
- Những thuốc nào cần mua em đã ghi ra cả ở đây rồi.
Vừa nói Vấn vừa trao cho Đực một mảnh giấy bằng bàn tay viết kín những chữ. Đực đón lấy rồi nói:
- Anh sẽ nhờ tía lên chợ Lùng. Ở đó không có thì lên tỉnh. Nhất định là phải đầy đủ mà.
Vấn ngập ngừng:
- Nhưng rồi tía sẽ nghĩ sao. Có giận mình không?
Đực khua tay:
- Ôi, ăn nhằm gì. Thấy anh có vợ con đàng hoàng, ổng còn mừng.
Vấn nhìn Đực một giây rồi nói tiếp:
- Còn một điều này nữa, em cũng phải nói hết cho anh biết. Anh thấy là mình đang hoạt động để hoàn thành sự nghiệp lớn lao của dân tộc chớ.
- Thấy.
- Cho nên mình phải đặt quyền lợi tổ quốc lên trên quyền lợi cá nhân.
- Rồi sao?
- Cho nên vấn đề gia đình đặt ra bây giờ chưa đúng lúc, phải không?
- Nghĩa là...
- Nghĩa là em sanh con rồi, chưa về sống với anh đâu. Phải chờ đến lúc cách mạng thành công đã.
Mặt Đực buồn hẳn đi, gã bối rối:
- Mà điều thỉnh thoảng cũng gặp nhau chớ.

- Dĩ nhiên rồi. Sau mỗi lần công tác hoàn tất em sẽ tìm anh. Chả mong gặp anh thì gặp ai.
Nói rồi Vấn lục sắc lấy một tấm ảnh trao cho Đực:
- Đây em tặng anh tấm ảnh này để anh nhớ mãi tới em.
Mắt Đực sáng lên. Gã đón vội lấy bức hình và giơ lên ngắm nghía. Bức ảnh chụp Vấn ngồi vắt vẻo trên một cành cây. Nàng bận áo sơ mi cổ bẻ, thắt lưng da buộc ngang bụng, ống quần bó ở gấu và đi dép Bình Trị Thiên. Vấn giảng giải:
- Hình này em chụp từ hồi còn ở Học-sinh-đoàn trong Quảng Bình. Anh thấy có khác bây giờ không?
Đực đáp:
- Không khác bao nhiêu. Khi đó em có vẻ học trò hơn.
Vấn cười:
- Thì học trò chụp hình làm sao lại không giống học trò được. Nhưng nói vậy chớ, cũng cực lắm nghe. Hồi đó phong trào phát động lên rồi, tất cả bọn này tình nguyện theo hết. Lúc tập trung ở Xuân Hội, tổng số dễ lên tới năm trăm người. Nhà nước gửi bọn này cho đồng bào địa phương, cứ ba bốn đứa một nhà, ăn chực nằm chờ gần một năm mới khai giảng lớp học. Trong thời gian chờ đợi, tụi em phải trồng rau, chăn vịt, làm đồng, nghĩa là chủ nhà cần gì thì mình làm nấy. Về sau cực quá, tụi nó trốn hết, tới ngày khai giảng chỉ còn ngót nghét có hai trăm.
 Mặt Vấn đang vui bỗng buồn hẳn đi. Cặp mắt long lanh bỗng trở nên xa vắng. Nàng bồi hồi xúc động như vừa va phải những kỷ niệm nhớ thương nào trong dĩ vãng. Hồi đó Vấn yêu một anh cán bộ miền Bắc tên Dương. Hai người hợp thành một cặp đẹp đôi nhất Xuân Hội. Khi mãn khóa, Vấn tiếp tục theo Dương đi công tác khắp vùng cao nguyên, và gần hai năm sau, họ làm lễ cưới ở trại Kim Đồng. Đám cưới cử hành thật giản dị và có ban văn nghệ giúp vui. Vấn nhớ chương trình hôm đó có tới hai vở kịch cùng qui về một vấn đề hôn nhân.
Vở thứ nhất diễn tả một anh chồng phải lên đường chiến đấu ngay trong ngày cưới. Đêm tân hôn anh ta nằm ngoài vòng rào kẽm gai của đồn địch. Rồi sau đêm giao chiến, anh ta tặng vợ một chiến công để làm quà động phòng.
Vở thứ hai nói về “nhiệm vụ người ở nhà” của một cô vợ có chồng phải lên đường chiến đấu. Đến lúc nghe tin chồng tử trận, cô nàng không những không khóc lóc mà còn giơ tay thề thốt sẽ noi gương chồng để phục vụ cho cách mạng. Câu chuyện khuôn thước, một chiều, phản tâm lý, tình cảm đến thế mà hồi đó Vấn cho là hay, là có ý nghĩa sâu sắc.
Ba tháng sau ngày cưới, Dương phải từ giã Vấn để đi công tác dưới đồng bằng, rồi biệt tích luôn ở dưới đó. Có người báo tin là Dương đã chết trong một trận đánh lớn ở miền Hậu giang. Vấn đau khổ tưởng có thể chết được. Nàng nằm liệt một chỗ và bỏ công tác hàng tháng trời. Ý nghĩa của những vở kịch trong đêm liên hoan ngày cưới bây giờ đã trở thành những hình ảnh mỉa mai, chua chát. Lý thuyết với thực tế quả thật đã khác nhau một trời một vực.
Trong những ngày đau khổ, Vấn được gần gũi với Phú, một gã làm ở văn phòng Bí thư Khu ủy. Thái độ mềm mỏng, dịu dàng của Phú khiến nàng nguôi được nỗi đau buồn để có thể đứng dậy tiếp tục làm việc. Một hôm, Phú yêu cầu nàng đi theo công tác trên sóc Thượng. Phú tổ chức uống rượu cần và Vấn đã say bí tỉ ngày hôm đó. Lần đầu tiên sau khi Dương biệt tích, Vấn tìm lại được nụ cười. Nàng thấy men rượu đưa mình vào một thế giới khác, thế giới bồng bềnh của lãng quên, của sự dìu dặt, nâng niu tâm hồn của mình bay bổng trên từng cao. Rồi đêm hôm đó hai người không về. Vấn không còn nhớ mình đã làm những gì trong suốt quãng thời gian còn đứng vững được trên căn nhà sàn đang bắt đầu xoay tròn chung quanh. Chỉ đến sáng hôm sau tỉnh lại, Vấn mới thấy mình lõa lồ trong chăn ấm của Phú. Thế là nỗi khổ đau cuối cùng của nàng đối với Dương cũng đã bị tước đoạt nốt. Vấn đã nghiến răng nhìn Phú hằn học:
- Anh khuyến khích tôi uống rượu để lãng quên và tìm lại nghị lực phục vụ cho đoàn thể. Sự phục vụ ấy là đây có phải không?
Phú im lặng không nói. Con người thật của gã đã trở lại qua ánh mắt sắc như dao, cặp môi mím chặt lại đầy vẻ lạnh lùng, tàn nhẫn. Trên đường về, hai người im lặng. Tiếng lá khô giòn vỡ nát dưới chân, Vấn nghe như lòng mình cũng đang vỡ nát.
Nhưng chỉ ít lâu sau, Phú hết sức ngạc nhiên khi thấy Vấn lại tự ý rủ mình đi uống rượu cần. Chuyến này Vấn say sưa quá độ và lột xác hoàn toàn. Nàng cho Phú hết mình trong lúc say sưa, nhưng đến lúc rã rượu, nàng lại trốn Phú như lẩn trốn một con trùng độc. Sau, Phú bị hạ tầng công tác và bị đổi xuống đồng bằng. Hôm chia tay, Phú nói:
- Tôi không bao giờ quên được em.
Vấn nhún vai lạt lẽo:
- Đừng nói chuyện tình nghĩa. Cả hai chúng ta cùng là phương tiện của nhau đó thôi.
Rồi Phú ra đi nhẹ nhàng như một chiếc lá khô lìa cành. Vấn ở lại, hăng hái lao đầu vào công tác như một tín đồ trung kiên với đoàn thể. Cuộc sống của nàng bỗng ồn ào như một cơn lốc mạnh. Làm việc hết lòng, phục vụ quá mức, tình nguyện bất cứ một nhiệm vụ nào, như một cánh bướm rã rời tung tẩy nốt những phấn hương còn lại trước khi nằm ép trên nệm cỏ cô đơn chờ bị hủy diệt.

Thấy Vấn im lặng hồi lâu, Đực liền đặt tấm ảnh vào tay nàng và nói:
- Cho anh mấy chữ vào đây chớ.
Vấn mỉm cười:
- Anh muốn ghi cái gì nào?
- Gì cũng được.
Vấn lấy bút ra hí hoáy viết:
- “Tặng anh để nhớ em mãi – Vấn”
Đực coi đi coi lại nhiều lần với đầy vẻ cảm động, rồi gã bỗng hỏi:
- Cái gì Vấn đây. Kỳ thật. Sắp có con cái với nhau rồi mà tên họ của nhau cũng chưa rõ.
Vấn lại mỉm cười lấy bút ghi thêm chữ Dương ở trước chữ Vấn. Đực thắc mắc:
- Không có tên đệm sao?
- Không.
- Kỳ cục quá há.
Đực vừa nói vừa mỉm cười nhìn Vấn. Gã trịnh trọng đặt tấm ảnh vào túi áo trên rồi hứa hẹn:
- Anh sẽ mang nó trong mình suốt đời.
Vấn hỏi:
- Anh yêu em thật sao?
Đực ngạc nhiên:
- Sao lại hỏi gì kỳ cục vậy?
Vấn không đáp ngả người vào lòng Đực. Nàng hôn Đực một cách nhiệt thành. Lần đầu tiên hôn một người trai khác, Vấn không thấy có hình ảnh của Dương chen vào. Nhưng giây phút quí báu ấy trôi qua như một sợi chỉ rất mỏng manh. Dương biến đi rồi lại hiện ra. Khuôn mặt khôi ngô của chàng chồng chất lên vẻ mặt chất phác của Đực. Rồi cả hai hình ảnh ấy nhòe đi hết. Trên gò má của Vấn hai giọt nước mắt chẩy xuống long lanh.

                                  * *
                                   *
Trong cơn thức ngủ chập chờn, Đực mơ thấy nửa vai trần trắng nhễ nhại của Vấn nóng bỏng dưới làn môi của mình. Gã gọi tên Vấn cuồng nhiệt. Nhưng Vấn bỗng vuột đi rất xa và tiếng gọi của Đực chỉ trở thành tiếng ú ớ. Gã cố gắng vùng vẫy để thoát khỏi cái cảm giác khô đắng ở họng thì lão Đối hiện ra ở đầu giường. Giọng lão hoảng hốt:
- Cái gì vậy Đực. Mầy làm sao thế?

Đực choàng tỉnh hẳn và nhận thức được cơn mê sảng của mình. Gã bẽn lẽn ngồi dậy, vươn vai thật dài. Lão Đối nhìn gã một giây nữa rồi vừa quay đi, vừa nói:
- Cháo ếch xong rồi đó. Có dậy mà ăn không?
Đực hỏi:
- Mấy giờ rồi tía?
- Dễ quá nửa khuya rồi.
Đực chép miệng:
- Vậy mà tôi cũng ngủ được một giấc dài. Sống ở ngoài đó, nhiều khi đói, nhưng đói ngủ là thường nhất.
-Hay ngủ tiếp đi, để nồi cháo đó tới mai.
Đực mỉm cười:
- Thôi, chờ đợi làm chi mất công. Tôi đói, ngủ không được.
- Ngủ không được mà mớ, la như la làng.
- Ủa! Tôi la lắm hả. Tôi la cái gì tía nghe rõ không?
- Tao đâu có để ý. Nghe đâu như mầy gọi thằng nào tên Vấn.
Đực ngập ngừng một giây rồi nói:
- Không phải thằng nào đâu. Con gái đó.
Lão Đối ngạc nhiên:
- Con gái nào nhỉ?
- Để vừa ăn cháo tôi vừa kể cho tía nghe. Bữa nay tôi về ngủ đêm ở nhà là vì chuyện đó đó.
Một lát sau, Đực thổ lộ cho lão Đối tất cả tâm sự thầm kín của mình. Rồi gã kết luận:
- Các thứ thuốc cần dùng có ghi cả trong mảnh giấy đó. Tía cố lo mua giúp giùm tôi. Chợ không có thì lên quận, mà quận không có thì lên tỉnh.
Lão Đối hậm hực, vặc lên:
- Tổ cha nhà mầy, mầy làm như tao phải chịu tội đi hoang cho mầy không bằng.
Đực giận dữ:
- Hoang cái gì chớ. Bộ tía tưởng tôi coi nó như loại người mèo tha, quạ mổ ngoài giữa lộ sao. Nói cho tía hay, tôi lấy nó làm vợ đó.
- Mầy lấy ai thì mặc cha mầy, mà điều đừng có ỉ eo gì tới tao.
- Thì dẫu sao nó cũng là con dâu của tía mà.
- Dâu với dia gì. Mầy ưng nó, mầy ngủ với nó, mầy có hỏi tao lấy một tiếng không?
- Thì bây giờ tôi hỏi đó!
- Rồi nếu tao không ưng thì mầy tính sao?

- Chèn ơi! Thời buổi này mà tía làm như hồi tía còn xuân xanh không bằng. Chuyện vợ chồng thì chỉ một mình tôi ưng là đủ thôi chớ.
- Ừ, thì mầy ưng mầy cứ ưng. Tao đâu có thèm xía vô. Mà điều đừng có bắt tao lặn lội xuôi ngược để lo những thứ đồ mắc dịch này.
Đực bực bội đứng dậy:
- Cái đó tùy tía. Nó không có thuốc uống lúc hộ sinh, rồi mệnh hệ nào thì tôi oán tía tới già.
Nói rồi Đực bỏ ra ngồi hút thuốc ở ngoài hiên, sau khi ném lại mẩu giấy xuống cạnh nồi cháo còn nghi ngút khói. Lão Đối ngồi chết trân bên ngọn đèn dầu lù mù. Một nỗi chán chường dâng lên làm lão muốn được yên nghỉ như những người đã an phận nằm xuống để khỏi phải dính líu đến chuyện quê hương, chuyện xóm làng chuyện những người thân thích, ruột thịt. Nhưng rồi cuối cùng lão cũng phải nhặt mảnh giấy lên, soi nghiêng vào ánh đèn. Mảnh giấy kín mít những chữ. Lão chỉ lõm bõm đọc được một vài tiếng Việt như dầu nóng, bông gòn, kim băng, dép quai...còn tựu chung toàn là những tên thuốc tây ngót nghét cũng tới mười mấy thứ.
Ngắm nghía mãi chán, cơn hậm hực đã nguôi nguôi được chút đỉnh lại trào lên. Lão nói bâng quơ:
- Bằng đây thứ, có làm ông hoàng cũng chả có tiền mà mua cho đủ.
Đực nói vọng vào:
- Có cái gì mà ông hoàng bà chúa.Vài ba thứ thuốc trụ sinh, đồ Mỹ rẻ như bèo.
- Rồi còn bông gòn, còn dép quai...
- Mấy cái đồ bỏ ấy mà tía cũng kể là ăn nhằm. Không biết lúc bình an tía lo cưới vợ cho tôi, tía tính bỏ ra bao nhiêu đây?
- Vậy ra là mầy nhắm vào tiền cưới hỏi đó hả? Tao nói cho mầy hay, nếu tao có làm đám cưới cho mầy, tao chỉ có một bữa kỳ nhông mời bà con cô bác tới chứng kiến mà thôi. Thời buổi chiến tranh mà, giết ai ra tiền đây?
- Thôi tía đừng có nói nhiều. Tía không bằng lòng mua thì thôi. Không phải vì thế mà tía rỉa róc. Nói tía hay, tía không cho thì chẳng phải vì thế mà tôi không có những thứ đó đâu.
Nói rồi Đực ngồi bật dậy, ném điếu thuốc đang hút dở vào bóng đêm mù mịt. Gã hùng hổ đi vào, khoác cây súng lên vai. Phản ứng dữ dằn của gã làm lão Đối chột dạ. Lão đứng án ngữ ở ngay chỗ ra vào rồi hỏi Đực:
- Mầy đi đâu?
- Tôi đi đâu mặc tôi. Tía đã coi tôi không ăn nhằm gì tới tía thì can gì tía phải hỏi.
- Giờ nầy mầy xách súng đi ngơ ngơ ở ngoài đó, lính phục kích nó bắn chết cha mầy.

Đực chua chát:
- Đó là tía muốn vậy chớ đâu phải tại tôi.
- Tổ cha nhà mầy. Muốn mua cái gì thì cũng phải bán dăm con gà, con qué rồi mới có tiền, chớ bộ hô một tiếng là phải có ngay cho mày sao?
Vẻ mặt của Đực đang lạnh lẽo bỗng vui lên một chút. Gã nhìn sững ông già một giây rồi đổi giọng dịu dàng:
- Thì ai bắt tía phải có ngay mà tía la. Nhờ tía, nó mẹ tròn con vuông rồi thế nào tôi cũng đem cả mẹ con nó về cho tía thấy mặt một lần.
Lão Đối vẫn hậm hực:
-         Tao hổng có ham!


                                    (còn tiếp)

Thứ Tư, 20 tháng 11, 2013

Nhà văn Đỗ Phương Khanh : Quê hương tôi...đồng bào tôi...







Tôi vẫn thích xem những phim chiến tranh để mà sợ chiến tranh hơn, thích đọc thơ phản chiến để mà mơ ước ngày quê hương im tiếng súng, thích nghe nhạc T.C.S. để mà thấy thêm yêu chuộng hòa bình.

Nhưng thật ra là dân đô thị, tôi cũng chưa thấu rõ được chiến tranh là thế nào. Đó đây trong trí nhớ của tôi chỉ thoảng qua một vài hình ảnh: Một người đàn bà đi buôn hàng chuyến dọc đường bị mìn, cả khuôn mặt nát bấy còn lại vài cái hốc và những mảng thịt bầy nhầy di động cố thì thào:

- Con tôi, các con ơi...

Hoặc bà mẹ trẻ bế con mới sinh chạy hớt hải, tới khi nhìn xuống tay thì chỉ còn lại mớ tã lót bọc trong cái chăn, con đã lọt đi từ lúc nào, bà ta chạy nguợc lại thì ra dòng người chen chúc xô đẩy đã vô tình dẫm nát đứa nhỏ. Chỉ vài ba hình ảnh vụn vặt với cái tầm kiến thức về hiểm họa chiến tranh rất nghèo nàn của tôi như thế cũng đã đủ làm tôi rùng mình ghê sợ không muốn nhớ tới nữa. Và, như những người thích thanh bần, tôi cũng không muốn hiểu biết dồi dào thêm về mặt này.

Nhưng với chiến tranh, tôi không còn có quyền muốn hay không. Nó tàn nhẫn dạy dỗ, nhồi nhét cho tôi được hiểu biết. Tôi đã biết. Và tất cả dân đô thị đều đã biết, biết rõ ràng những đau đớn, thống khổ, tang tóc do chiến tranh gây ra. Biết vào đúng lúc lòng đang phơi phới mừng Xuân mới, biết vào lúc đang tung tăng trên đường đến Chùa, đến Nhà Thờ, lúc đang điểm trang, đang nhận tiền lì xì và các cô cậu bé biết cả vào lúc đang nhí nhảnh trước gương làm điệu hiệp sĩ....

Họ đã đổi lấy sự hiểu biết này bằng nhà tan cửa nát, bằng sinh mạng, bằng cánh tay, bằng cẳng chân, bằng máu, bằng bơ vơ xó chợ đầu đường ngay giữa ngày Xuân.

Đây chiếc xe lam chở người đàn bà và đàn trẻ mặt mũi nhọ nhem, trong đó có một đứa mặt xanh ngắt, máu đỏ thẫm đã ngả đen bê bết trên chiếc áo sơ mi mới tinh, một cánh tay còn nát bấy lèo nhèo thịt lẫn với vải rách. Bà mẹ mặt mày ngơ ngác kinh hoàng nhìn tai nạn chụp vào đứa con yêu quí, chỉ còn biết giữ chặt lấy cánh tay chết của con như ước mong có phép mầu gắn lại. Kia, một ông mặc complet vừa chạy vừa đẩy chiếc xe Scooter mồm la hét inh ỏi, ông ta quá sợ không dám dừng lại để đạp cho xe nổ máy.

Tất cả đều kinh hoảng tột độ. Họ chết, bị thương vào những giây phút bất ngờ nhất. Họ đã được yên tâm, được ru ngủ bằng lời hứa hẹn "hưu chiến đầu năm". Họ đã được mời dự một bữa tiệc thịnh soạn, thiệp mời in long trọng trên giấy kim nhũ, yêu cầu thực khách mặc lễ phục, để được thết bằng những món ăn tẩm thuốc độc.

Suốt những ngày khói lửa, tôi vô dụng đối với đồng bào. Tôi không giúp được gì khi được tin chồng chị bạn tôi chết giữa ngày Mồng Hai Tết, sau khi từ biệt chị để vào trại chiến đấu cùng đồng đội. Chị mếu máo:

- Hôm qua tụi em hẹn nhau tối nay đến mừng tuổi anh chị. Thế mà anh ấy bỏ em rồi. Anh ấy mới còn ngáp đây mà đã chết rồi.

Tôi không làm được gì cho chị giúp việc cũ của tôi. Nhà chị bị pháo kích cháy, chị cuống cuồng cắp hai đứa con ba và hai tuổi ra đường, chạy được vào định bế nốt con bé ba tháng thì mái nhà sập xuống. Chị tức tưởi:

- Cháu còn thấy nó dẫy trên võng. Tại đạn bắn rát quá nên mãi lúc cháy to cháu mới liều chạy ra. Cô ơi! Tội nghiệp nó quá, người nó teo lại bằng con gà quay mà bụng còn nguyên máu đỏ.

Tôi không thể làm vơi nỗi đau khổ của họ. Những lời an ủi đều vô nghĩa. Một mớ quần áo cũ, chút tiền cứu trợ có nghĩa gì với nỗi đau đớn tột cùng kia. Tất cả chỉ để cho họ được an tâm phần nào trong khi sự đau khổ đang xé nát trái tim họ.

Nhưng cũng có những hành động đẹp như bát nước mưa mát rượi tưới vào những cõi lòng héo hắt. Đó là những cụ già tóc bạc còn lặn lội đi hiến máu, những giọt máu của người già thật quí đối với họ, nó giữ gìn chút hơi tàn cuối đời mà cũng cố san sẻ để giúp nhân loại. Những cô cậu học sinh mò mẫm đi các trung tâm cứu trợ để giúp đỡ cho đồng bào tị nạn, các anh lái xe taxi, xe lam, xe honda, xe gắn máy ngược xuôi đi chở giúp những người bị nạn dời ra xa chốn bom đạn để tới những trạm tiếp cứu và những anh lính chiến len lỏi mò mẫm tìm đủ mọi cách tới được đơn vị, để chống giữ và đẩy lui những tang tóc đau thương đang tràn vào chụp thêm lên đầu dân chúng.

Trong những ngày dài dặc lo âu và xúc động, tôi thường nhìn những đứa nhỏ trong trại tị nạn đã mất cả cha mẹ một sớm một chiều - những đứa trẻ chẳng hiểu tang tóc đã đến, còn nhe răng cười khi thấy thằng bạn trượt chân - nhìn bà mẹ mất con mà phải dẹp đau đớn trong lòng, chen lấn để giành cho những đứa còn lại một chỗ nằm kín gió, nhìn ông già ngồi cạnh miệng cống đăm chiêu quấn điếu thuốc sâu kèn, để mà tự hỏi:

“Liệu tôi có nghĩ đúng khi cho rằng chỉ cần buông súng xuống là có hòa bình hay không ? Và còn có đời sống tự do hay không? Hay sẽ là những cuộc thanh trừng tàn sát còn đẫm máu hơn nữa”.

Tôi nghĩ..., tôi nghĩ...
*

Tôi không còn muốn nghĩ gì nữa. Từ thuở bé, tôi được ân huệ trời dành một nguồn hạnh phúc vô tận, là hằng đêm thường mơ thấy những giấc mộng đẹp. Tối lại, tôi đi ngủ với hy vọng gặp những giấc mộng. Tuy nhiên, đôi khi tôi cũng gặp ác mộng. Đại khái là một bà già hình dung cổ quái nhe răng nhìn tôi, rồi cánh tay bà vươn ra muốn chụp lấy tôi. Tôi cố chạy mà không thể được. Những cơn ác mộng của tôi thường được kết liễu bằng sự cố chạy mà không được, tôi sẽ tỉnh lại bằng tiếng la của chính tôi.

Cơn ác mộng đã đến với tất cả các đô thị, đã đến với đồng bào tôi.... đến trong mùa Xuân ... trong tiếng pháo nổ tưng bừng.... Không ai có thể la hét lên để mong tỉnh lại. Chỉ còn ao ước ác mộng chóng qua và những ngày thanh bình êm đềm cũ lại trở về.
Đỗ Phương Khanh
(Sài Gòn -1968)
(Báo Bách Khoa, số 267, Tân Niên 1968,
số đặc biệt về biến cố Mậu Thân)

Thứ Ba, 19 tháng 11, 2013

HẺM BUÔN CHUYỆN (KỲ 127) : “Vòng vo tam quốc”

                                                                                                                       
                              
   


 Tối nay chẳng hiểu có gì vui cô Phượng cave cứ nhìn lên tivi cười ngỏn nghẻn. Thằng Bảy xe ôm đoán mò :
“ Chị Phượng  cave có gì vui quá vậy ? Chắc tivi mới quảng cáo khuyến mãi sữa tắm hả ?”
Cô Phượng cave trừng mắt :
“ Tao thiếu gì sữa tắm hàng hiệu phải dùng sữa tắm khuyên mãi ?”
Chị Gái hủ tíu tròn mắt :
“ Vậy chắc cô Phượng cave dùng hàng Mỹ xách tay ?”
Cô Phượng cave tru mỏ :
“ Nhằm nhò gì hàng xách tay. Tôi dùng hàng chính hiệu Nhựt Bổn hương hoa anh đào…”
Chị Gái hủ tíu trầm trồ :
“ Vậy chắc mắc lắm ?”
Cô Phượng cave đắc trí :
“ Rẻ thôi…800 ngàn một ống thôi…”
Thằng Bảy xe ôm hít hà :
“ Í trời ơi…hèn chi da dẻ chị Phượng cứ làng mướt , lại thơm mùi Nhựt Bổn nữa chứ ?”
Gã Ký Quèn cười ha hả :
“ Mùi Nhựt Bổn nó thế nào vậy Bảy…”
Thằng Bảy xe ôm :
“ Thì anh cứ Ký Quèn cứ dí mũi vào người chị Phượng cave là thấy liền à .?”
Cả quán cười ầm ầm , cô Phượng cave đấm thùm thụp vào lưng thằng Bảy xe ôm làm nó la oai oái. Gã Ký Quèn đoán mò :
“ Vậy chắc cô Phượng thấy trên tivi ông bồ già đang họp quốc hội nên cười chớ gì ?”
Cô Phượng cave lắc quày quạy :
“ Không không…tôi cười mấy ông bà nghị ấy chớ. Ông bà nào chất vấn cũng nói “nhất trí cao với báo cáo chính phủ”. Nhất trí cao thì còn chất vấn làm cái đéo gì ?”
Ông đại tá hưu đập bàn :
“ Con Phượng cave nói láo !”
Thằng Bảy xe ôm cướp lời :
“ Chị Phượng cave nói đúng đó…có ông còn đánh giá cao Bộ công an, đánh giá cao Bộ giao thông, đánh giá cao Bộ văn hóa….đánh giá cao vậy còn chất vấn cái con mẹ gì ?”
Ông Tư Gà nướng càm ràm :
“ Tao chỉ thấy có ông hỏi sao lắm phân đểu,hạt giống đểu, thức ăn gia súc đểu thế.Lẽ ra cha Bộ trưởng phải trả lời hàng đểu đó đâu ra, ngăn chặn ra sao, bắt bao nhiêu thằng ? Vậy mà cha cứ trả lời vòng vo tam quốc có hiểu gì đâu ?”
Gã Ký Quèn :
“ Ai chẳng biết hàng đểu từ Trung Quốc tuồn sang. Nhưng động đến bố thì con có mà mất ghế…”
Thằng Bảy xe ôm cười hi hí :
“ Chị Tiến ruồi bữa ni diện đồ xanh, nom xốn con mắt. Chị lại sắp thành lập đường dây nóng về y đức đấy nha. Lộn xộn gọi điện cho chị là chết cha mấy thằng y bác sĩ…”
Gã Ký Quèn cười hô hố :
“ í nhầm to, giả tỉ cô Phượng cave khám phụ khoa bị bác sĩ quờ quạng. Cô gọi điện qua đường dây y đức, thế nào chị Tiến ruồi cũng kêu lớn :” Í trời ơi…khám chỗ nào ? sao sướng quá dzậy ?”
Cả quán lại cười ầm ầm. Cô Phượng cave tức quá chửi om sòm. Ông Tư Gà nướng càm ràm :
“ Sao quốc hội không có buổi thảo luận hội trưởng về sửa đổi hiến pháp hả ?”
Gã Ký Quèn trợn mắt :
“ Ô…vậy chú Tư hổng biết hả ? Đảng ta đang mót thông qua hiến pháp, cho thảo luận hội trường lỡ cha nào uống mật gấu có ý kiến đòi bỏ điều 4, đòi đất đai là của dân có phải rách việc không. Thôi thôi cứ khóa sổ, sáng 28 này thông qua cái rụp rồi giải tán lẹ là xong  …Thế là thôi rồi..Diễm ơi…”
Cả quán lại cười ầm ầm.Trên tivi vẫn tường thuật các ông bà nghị chất vấn  Bộ trưởng sôi nổi phát …ngáp ngủ ! 

19-11-2013



Thứ Hai, 18 tháng 11, 2013

nhà văn NHẬT TIẾN : HÀNH TRÌNH CHỮ NGHĨA (KỲ 30)




                                                         (tiếp theo)
                                        CHƯƠNG 14



                       Thời điểm : California năm 2003



                TRÒ CHUYỆN VỚI TRẦN VĂN THUỶ


                                     đạo diễn Trần văn Thủy


(Tại tư gia Nhật Tiến ở California

ngày 22-1-2003)



            NT: Gớm nhỉ. Anh làm tôi ngạc nhiên, vì trong đầu óc của tôi, từ cả chục năm nay, tôi cứ hình dung ra anh là một nhà nghệ sĩ với đầu tóc bạc phơ. Nay lần đầu tiên gặp anh, tôi thấy anh trẻ trung, nhanh nhẹn ngoài sự tưởng tượng.

            TVT: Anh đoán tôi năm nay bao nhiêu ?

            NT: Dưới 50, khoảng 45 là nhiều.

            TVT: Cám ơn anh, mới gặp anh, anh đã làm tôi thấy yêu đời hơn. Anh cư ngụ ở quận Cam này đã lâu chưa ?

            NT: Từ năm 1981, tính ra cũng đã hơn 20 năm rồi.

            TVT: Thế thì hẳn anh gắn bó với nơi chốn này lắm nhỉ?

            NT : Vậy mà không đấy. Về mặt tâm cảm, tôi chưa bao giờ nhận nơi này làm quê hương. Nói một cách cụ thể : tôi biết ơn nước Mỹ đã cưu mang toàn bộ dân tỵ nạn kể từ sau tháng 4 năm 1975, đã đem lại cho gia đình tôi đầy đủ cơ hội để an cư lạc nghiệp. Nhưng nhìn lại cuộc chiến vừa qua, tôi vẫn thấy ám ảnh về sự bất hạnh đã áp đặt lên số phận dân tộc mình, kể cả miền Nam lẫn miền Bắc. Nỗi ám ảnh này đã khiến cho tôi cảm thấy mình luôn luôn là kẻ lưu vong, trên xứ Mỹ cũng như ngay cả trên quê hương của mình.

            TVT : Từ năm 1990, nghe nói anh vẫn có dịp thườngvề thăm quê nhà.

            NT: Vâng, thường thì cứ 1 hay 2 năm tôi lại về VN một lần, và đã đi từ Bắc xuống Nam.

            TVT: Điều gì đã khiến cho anh cảm thấy mình bị lưu vong ngay cả trên quê hương của mình ?

            NT: Cảm giác xa lạ, sự không thể hoà nhập được vào đám đông ở chung quanh mình và cái bầu không khí sinh hoạt văn hóa nói chung, văn học nghệ thuật cũng như báo chí nói riêng, vẫn bao trùm một niềm kiêu hãnh rằng “ dân tộc ta anh hùng, đã đánh cho Mỹ cút, cho Ngụy nhào”, là một người xuất thân từ miền Nam trước đây, làm sao tôi có thể hoà nhập được. Tuy nhiên cũng phải nói thêm là những nhận thức này tôi chỉ cảm thấy khi ra tiếp xúc với xã hội bên ngoài, còn ở chỗ riêng tư trong gia đình hay trong vòng thân mật giữa các bạn bè, dù ở bất cứ nơi đâu , Hà Nội hay Sài Gòn, tôi đều thấy chan hoà một tình cảm thân yêu, gắn bó.

            TVT: Vậy cuộc chiến  vừa qua, dưới cái nhìn của anh bây giờ, nó ra sao ?

            NT: Điều bất hạnh cho dân tộc ta là những người đã hy sinh trong cuộc chiến vừa qua đều đã mang nhận thức là mình đã hy sinh cho chính nghĩa. Chống Mỹ xâm lược là chính nghĩa mà những anh bộ đội đã theo đuổi. Bảo vệ miền Nam tự do là chính nghĩa mà những chiến sĩ VNCH đã sẵn sàng đổ máu. Sự hy sinh của tất cả đều mang một ý nghĩa chính đáng, nhưng rút cục cuộc chiến chỉ là một sự tương tàn khủng khiếp mà thủ phạm là những tay sai của ngoại bang ở cả hai phía.

            TVT: Có bao nhiêu người chia sẻ với anh ý nghĩ này ?

            NT: Tôi chưa bao giờ làm một cuộc thăm dò hay thống kê. Tuy nhiên, nếu không thoát ra khỏi cái vị trí bên này hay bên kia để đứng trên bình diện dân tộc mà nhìn lại cuộc chiến thì chẳng có ai,  dù ở phía nào,  lại chia sẻ những nhận định ấy  của tôi cả.        

            TVT: Vậy hẳn chủ trương hoà giải và hoà hợp mà  hình như anh đã theo đuổi từ lâu, cũng nằm trong cái tâm thức hướng về dân tộc ấy ?

            NT :Đúng vậy!  Tôi chưa  và cũng chẳng bao giờ lại chủ trương hoà giải, hoà hợp  với độc tài hay bạo lực. Ý thức dân tộc dĩ nhiên bao gồm cả hai miền Bắc Nam, vượt lên trên  thành  kiến và quá khứ chính trị, có một tình cảm chung là biết cảm thông, biết thổn thức, biết thương yêu và xót xa trên những đổ vỡ đau thương của dân tộc, và dĩ nhiên biết cả sự căm phẫn về những thế lực phân hoá, chia rẽ và làm trì trệ  dưới mọi hình thức, con đường tiến hoá của dân tộc. Sau bao nhiêu năm tang thương của cuộc chiến, với chất ngất hận thù giữa bên này với bên kia, con đường hoà hợp hoà giải dân tộc là sinh lộ duy nhất để đem quê hương ra khỏi tình trạng mất tự do dân chủ, nghèo nàn, chậm tiến và tràn lan tệ nạn tham nhũng và bất công như hiện nay.

            TVT: Trên tiến tình hoà hợp, hoà giải đó, anh nghĩ sao về những khuynh hướng cứng dắn trong cộng đồng V N ở hải ngoại đại để như những chủ trương không du lịch về VN, không gửi tiền về trợ giúp thân nhân cũng như các công tác từ thiện ở VN, không tiêu thụ những sản phẩm sản xuất từ trong nước, và riêng trong lãnh vực nghệ thuật, tẩy chay những ca sĩ từ trong nước ra bên ngoài trình diễn ?

            NT: Tôi cảm thông tâm trạng của những con người còn duy trì những chủ trương

cứng dắn đó, nhưng con đường cứu nước của họ chỉ là một thứ đường mòn vô dụng không đem lại một lợi ích nào cho dân tộc nếu không muốn nói là lại còn làm cản trở bước tiến của dân tộc.  Tôi thường nghe rất nhiều lần người ta nhân danh quyền lợi của trên 80 triệu đồng bào ở trong nước để phát động những cuộc đấu tranh theo kiểu như trên, nhưng hầu như họ chẳng hiểu gì về tâm tư hay nguyện vọng đồng bào ở quê nhà. Ổn định và phát triển, theo tôi nghĩ, đó là khuynh hướng chung của  thành phần đa số của dân tộc trong hoàn cảnh hiện nay. Dĩ nhiên, ổn định không có nghĩa là cam chịu làm tôi tớ cho giai cấp cầm quyền và làm nô lệ cho đám tư bản ngoại quốc mà hành vi của nhiều tên trong đám này đã chà đạp lên nhân phẩm cũng như danh dự của  dân tộc một cách công khai mà chưa hề bị trừng trị đích đáng. Nếu hiểu sự ổn định trong ý nghĩa của sự cam chịu nhục nhã đó thì làm sao có thể phát triển được.

            TVT: Là một thành viên của cộng đồng VN ở hải ngoại, anh vận dụng quan điểm chính trị ấy của anh bằng những phương cách nào? Hiệu quả ra sao?

            NT: Là một người cầm bút, tôi chỉ có thể trình bầy những suy nghĩ của tôi qua con đường sáng tác văn chương hay một số bài phát biểu mỗi khi có dịp. Vào thời điểm cách đây 10 hay 15 năm, thì những suy nghĩ chính trị của tôi như vừa kể trên phải kể là quá sớm và do đó tôi đã phải nhận lãnh nhiều hệ quả. Tuy nhiên, nhìn vào sinh hoạt của đa số thầm lặng trong cộng đồng VN ở hải ngoại, tôi thấy là những suy nghĩ của mình đã dần dà được chia sẻ. Từ nhiều năm qua, du lịch về VN không còn là một điều phải giấu giếm,  các nhóm thiện nguyện đem tiền bạc và kỹ thuật về làm công tác từ thiện ở  trong nước ngày càng nhiều, việc các báo Việt ngữ loan lại tin tức VN trích từ các báo trong nước, ngay cả những tin tốt lành, không còn là điều cấm kỵ hay phải tránh né, và đặc biệt, cứ nhìn vào ngân khoản trợ giúp thân nhân của Việt kiều hải ngoại gửi về mỗi năm lên tới hàng 2,3 tỉ đô la thì đủ thấy người Việt hải ngoại gắn bó thế nào với quê hương, đất nước, đồng bào, quá khứ chính trị không còn là một vấn nạn nặng nề trên tâm thức của nhiều người nữa. Tôi hiểu rằng, con đường ổn định và phát triển là con đường ngày càng được nhiều người ở cả trong và ngoài nước chấp nhận.



            TVT: Định cư ở Mỹ , anh sinh sống bằng nghề chuyên môn hay việc cầm bút ?



            NT: Nghề chuyên môn chứ ! Viết văn làm sao nuôi sống nổi riêng bản thân chứ chưa nói gì tới gia đình. Một cách cụ thể để anh thấy rõ vấn đề, là trong hơn 20 năm ở Mỹ, tôi viết được khoảng gần 40 truyện ngắn và những truyện này đã được in trên nhiều báo chí Việt ngữ ở Âu, Mỹ, Úc. Canada nhưng tiền nhuận bút tổng cộng nhận được không quá 1 ngàn đô la. Nói nhuận bút thì không đúng, thật ra đó chỉ là tiền hỗ trợ của anh em bạn bè làm báo đã gửi  cho trong những bước khó khăn lúc đầu. Sau này, khi đã ổn định đời sống rồi thì viết lách đối với tôi chỉ là một nhu cầu để giải tỏa những suy nghĩ bức xúc của mình thôi.



            TVT : Theo anh thì những yếu tố nào góp phần vào sự thành công của một người định cư  ở Mỹ ?



            NT: Nếu hiểu sự thành công ở một mức tương đối, thông thường thì theo tôi có 3 yếu tố góp phần: Một là sự hỗ trợ hiểu theo ý nghĩa tinh thần của các thành viên trong gia đình, hai là sự cần mẫn, kiên trì của mỗi cá nhân và ba là sự trợ giúp hào phóng của nhân dân Mỹ trong tiến trình lập nghiệp của mỗi cá nhân đó.



            TVT: Trở ngại hay khó khăn nhất  khi sinh sống ở Mỹ theo ý anh là gì?



            NT: Dĩ nhiên là Anh ngữ rồi! Theo kinh nghiệm của tôi, khó khăn nhất là Nghe, rồi đến Nói, rồi đến Viết, sau cùng dễ hơn cả là Đọc. Ở cái tuổi của tôi, tai đã chẳng thính, lưỡi đã ngay đờ...làm gì mà không gặp khó khăn. Tuy nhiên, cứ cần mẫn và kiên trì thì rồi đâu cũng vào đó cả.



            TVT: Nghe nói anh cũng vừa cho xuất bản một cuốn sách do chính anh dịch từ Anh ngữ?



            NT: Đó là cuốn Thân Phận Dư Thừa dịch nguyên văn từ cuốn The Unwanted của Kiên Nguyễn, người rời VN theo diện con lai năm 14 tuổi và bây giờ vừa là nha sĩ vừa là nhà văn. Kiên Nguyễn đã vừa ra tác phẩm thứ hai, cuốn The Tapestries, và cuốn này cũng rất thành công.

           

            TVT: Theo anh thì yếu tố nào khiến cho giới độc giả người Mỹ chú ý đến tác phẩm của Kiên Nguyễn  ngay từ cuốn đầu tay ?

                                   

            NT: Vấn đề con lai ! Đây là một đề tài tương đối mới mẻ và độc giả người Mỹ muốn biết số phận của những con lai bị bỏ lại Việt Nam sau cuộc chiến sẽ ra sao. Cuốn hồi ký của Kiên Nguyễn đã diễn tả số phận của chính anh và qua đó số phận của hơn 50 ngàn đứa con lai khác. Đấy là một thảm kịch mà ít có người cầm bút nào có đủ thẩm quyền như Kiên Nguyễn để viết lại.

           

            TVT : Ở Mỹ, người cầm bút có đủ tự do để viết tất cả những gì mình muốn viết chứ ?



            NT: Về đại thể thì ai cũng cho là như thế, nhưng thu hẹp vào những cộng đồng nhỏ nhoi thì vấn đề có khác, nhất là cái cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại vốn đã từng có nhiều năm chất ngất hận thù đến độ không chấp nhận một sự suy tư nào khác hơn là sự suy tư đã đông đá trong đầu óc của họ.



            TVT: Nhưng giới trẻ trong cộng đồng thì phải khác chứ, họ không bị ràng buộc gì với quá  khứ và đa số, tại thời điểm năm 2003 này, nhiều thành phần trẻ không hề biết cuộc chiến ở Việt Nam là cái gì.



            NT: Đồng ý là như thế, nhưng họ vẫn được dạy dỗ để tiếp tục nuôi dưỡng hận thù. Phong trào tuổi trẻ “Nối bước cha anh" là một ví dụ cụ thể. Kiến thức về Cộng Sản VN đối với họ là kiến thức của những thập niên từ 50 đến 80 do cha ông truyền lại. Thì cũng như tuổi trẻ ở Việt Nam bây giờ, họ luôn luôn bị nhồi nhét để biết ơn Đảng lãnh đạo đã đánh cho Mỹ cút, cho Nguỵ nhào. Ít có tuổi trẻ nào nhận thức được ra rằng để thay thế cái xã hội vốn đã bị lật nhào ấy, lại sản sinh ra một xã hội y hệt như thế mà mức độ đồi truỵ còn tăng lên gấp bội phần. Thế thì xương máu của các bậc đi trước đã đổ xuống quê hương có phải là một sự uổng phí đến kinh hoàng không?



            TVT: Vậy anh trông mong gì ở giới trẻ, cả trong lẫn ngoài nước?



            NT: Tôi kỳ vọng ở nơi tuổi trẻ một tấm lòng trong sáng, thẳng băng không nhuốm chút  hận thù để biết làm một cái vươn vai lớn mạnh có tính cách Phù Đổng. Vươn vai để giã từ mọi hệ lụy, ràng buộc trong quá khứ mà nhìn thẳng vào những nhu cầu khẩn thiết của quốc gia dân tộc. Vươn vai để biết rũ bỏ tinh thần ỷ lại chỉ biết cậy trông vào sức mạnh của cường quốc để cầu xin giải quyết vấn đề của chính quốc gia mình, dân tộc mình. Họ cũng phải biết nhận thức rằng quê hương còn rất nhiều vấn đề cần đến sự tiếp tay của tất cả mọi phía: Dân trí chậm tiến, phẩm chất đạo đức cá nhân suy đồi, tệ đoan và bất công xã hội gia tăng nặng nề, sinh mệnh, đất đai của dân tộc như chỉ mành treo chuông trước mộng bá quyền của phương Bắc.. v.v... Chỉ có sự khơi mạch yêu thương và hóa giải hận thù để tập hợp được hết sức mạnh của toàn dân cả trong lẫn ngoài nước thì mới mong từng bước làm cho những vấn đề khẩn thiết của quê hương có cơ hội giải quyết. Nói tóm lại là, một thiên niên kỷ mới đã bắt đầu. Con người Việt Nam hơn hai mươi lăm năm sau cuộc chiến cũng phải thay đổi não trạng để góp phần vào công cuộc phục hưng thực sự cho xứ sở.



            TVT: Anh có cho phép tôi đưa những cuộc đàm thoại kiểu như thế này vào một cuốn sách sẽ in không ?



            NT: Những gì tôi đã nói ra, tôi không bao giờ ngại ngần là nó sẽ bị phổ biến thành công khai, dù ở bất cứ nơi nào. Đó là một sự trung thực tối thiểu cần có ở nơi người cầm bút. Nhưng rồi cuốn sách ấy sẽ lấy tên là gì?



            TVT: Tôi chưa có sự chọn lựa dứt khoát, nhưng đại để là "Nỗi buồn  nhược tiểu” chẳng hạn!



            NT: Tôi hoàn toàn không thích cái tựa đề này.



            TVT: Sao vậy ?



            NT: Tôi ghét hai chữ “nhược tiểu”, không phải bây giờ mà từ lâu rồi, ngay cả trong sinh hoạt văn học nghệ thuật ở miền Nam trước đây. Nào là nước mắt nhược tiểu, thân phận nhược tiểu, nỗi buồn nhược tiểu v.v... nghe sao mà nó tràn đầy tự ti mặc cảm và mang tính chất chưa đấu tranh mà đã chấp nhận thua thiệt về mình. Một dân tộc cứ ôm lấy suốt đời cái mặc cảm nhược tiểu như thế thì không bao giờ ngóc đầu lên được.



            TVT: Vậy thì tôi sẽ tìm một cái tên khác hàm súc hơn, ấm áp hơn, thí dụ “ Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ”, “Tổ quốc nhìn từ xa”, “ Đi về nơi hoang dã”, “Những thiên đường mù”. Đùa vui tí thôi, nhưng tóm lại là không có "Nỗi buồn nhược tiểu" nữa nhé ! Cám ơn anh về cuộc trò chuyện này.  Chúc anh viết đều đều và về Việt Nam dài dài.



                                       Một ngày sương mù dầy đặc ở California,

                                                                    tháng 1 năm 2003



                                     TRẦN VĂN THỦY                                       



****